tholvt
09-04-2013, 03:20 PM
Ghềnh ráng - Khách Sạn Hai Hường Quy Nhơn Bình Định<br>
Ghềnh Ráng là một quần thể sơn thạch của dãy núi Xuân Vân chạy đến sát chân biển phía nam thành phố Quy Nhơn. Nơi đây đá chất ngổn ngang, tạo thành hang, thành rạn, thành ghềnh, quanh năm giỡn đùa cùng sóng biển...<br>
Từ đỉnh Ghềnh Ráng có thể phóng tầm mắt nhìn rộng cả bốn bề. Phía nam như một bức tranh sơn thủy hữu tình với những dãy núi xanh dựng thành từng lớp, nơi cao, nơi thấp chạy dọc ven biển đến tận Quy Hòa. Về phương bắc, lướt qua dải cát vàng mịn óng, thành phố Quy Nhơn hiện lên với những đường phố dọc ngang; xa xa là khu kinh tế Cẩm nang du lịch- Hotel Hai Hường<br>
Với 9 di sản văn hóa thế giới, gần 3.000 di tích, thắng cảnh được xếp hạng cấp quốc gia và hơn 500 lễ hội của 54 dân tộc… tiềm năng du lịch của Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, để du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn thì vẫn còn nhiều việc phải làm. Trong đó, việc đầu tiên và quan trọng nhất là xây dựng, khẳng định thương hiệu sản phẩm du lịch đặc thù.<br>
Tiềm năng nhiều, hạn chế... lắm<br>
Hiện ngành du lịch đóng góp khoảng 5% GDP quốc gia. Từ 1 triệu lao động trực tiếp làm trong lĩnh vực du lịch, sau 9 năm (2001-2009) con số này đã tăng lên 20 lần; lao động gián tiếp ước khoảng 800 nghìn. Du lịch cũng là ngành kinh tế thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (riêng năm 2009, thu hút 8,8 tỷ USD, chiếm 41% tổng số vốn đăng ký FDI vào Việt Nam). Mười năm qua, với chương trình hành động quốc gia về du lịch, nhiều cơ sở vật chất được nâng cấp, hình thành các khu du lịch trọng điểm, nhiều ngành kinh tế phát triển nhờ du lịch. Chương trình hành động quốc gia với Năm Du lịch quốc gia được lần lượt tổ chức tại các địa phương đã góp phần thúc đẩy du lịch phát triển. Thông qua các chương trình này, khái niệm du lịch, kinh tế xanh dần dần được định hình.<br>
Tuy nhiên, so với tiềm năng du lịch hiện có thì lượng khách quốc tế đến ViệtNam hằng năm còn thấp, giữ khoảng cách khá xa so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia. Du lịch chưa thực sự được đầu tư phát triển tương xứng, kết cấu hạ tầng nói chung còn lạc hậu, chưa đáp ứng <a href="http://www.haihuonghotel.vn/vi/component/content/article/1-gioi-thieu/1-khach-san-hai-huong-o-tai-quy-nhon.html" target="_blank">khách sạn ở tại quy nhơn</a> được nhu cầu, đặc biệt là chưa có cảng biển chuyên dụng cho khách du lịch tàu biển… Ngoài ra, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam Nguyễn Văn Tuấn cho biết thêm, môi trường du lịch nhiều nơi bị suy giảm, công tác quản lý tài nguyên du lịch còn ít nhiều hạn chế, tình trạng xâm hại tài nguyên, môi trường của nhiều khu du lịch như Hạ Long, Cát Bà, Huế… đã lên tới mức báo động; hiện tượng chặt chém, chèo kéo du khách… chưa được các địa phương giải quyết triệt để…<br>
Tìm đâu sản phẩm đặc thù?<br>
Mục tiêu thu hút 12 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 35 triệu du khách nội địa vào năm 2020 là không hề đơn giản.<br>
Vấn đề cơ bản của du lịch Việt Nam hiện nay là xây dựng những sản phẩm đặc thù, mang bản sắc Việt Nam. Đến một địa phương nào đều có một sản phẩm du lịch nhất định nhưng để đòi hỏi một độ tinh xảo, khéo léo... thì rất khó. Ở đâu cũng chỉ những tấm thổ cẩm, vài ba sản phẩm thủ công mỹ nghệ… được làm như hàng chợ, chưa thể hiện được "linh hồn" người thợ thủ công vào một sản phẩm làm bằng tay. Điều đáng nói, cả người mua và người bán đều chưa ý thức được vai trò của sản phẩm lưu niệm.<br>
Khi môi trường cạnh tranh du lịch khốc liệt hơn thì muốn thu hút khách du lịch bắt buộc phải tạo nên những giá trị khác biệt. Vậy điều khác biệt, độc đáo của du lịch Việt Nam là gì? Hiện Việt Nam có khoảng 10 sản phẩm du lịch thuộc ba nhóm: Nhóm các sản phẩm du lịch tự nhiên bao gồm du lịch sinh thái; du lịch bãi tắm và du lịch biển... Nhóm sản phẩm du lịch văn hóa bao gồm du lịch văn hóa vật thể, du lịch văn hóa phi vật thể; du lịch bảo tàng; du lịch ẩm thực… Nhóm du lịch đô thị bao gồm du lịch đô thị cổ, du lịch đô thị hiện đại… Như vậy, Việt Nam sẽ chọn sản phẩm nào làm mũi nhọn phát triển?<br>
Trên thực tế, tài nguyên du lịch biển, tài nguyên du lịch núi và tài nguyên du lịch của 9 di sản văn hóa thế giới với 3 sản phẩm du lịch chủ lực là du lịch biển, du lịch núi và du lịch tham quan các di sản văn hóa thế giới nên là những ưu tiên. Từ đó, nên <a href="http://www.haihuonghotel.vn/vi/component/content/article/1-gioi-thieu/1-khach-san-hai-huong-o-tai-quy-nhon.html" target="_blank">khach san o tai quy nhon</a> xây dựng các tour, tuyến du lịch và những khu du lịch trọng điểm. Nhưng với điều kiện tài chính, nguồn lực như hiện nay, ngành du lịch có nên dàn trải? Theo TS Lưu Đức Hải, Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch - Đầu tư), chỉ nên lựa chọn 6 khu du lịch tập trung đầu tư, ưu đãi chính sách nhằm tạo ra 6 khu du lịch thế giới là Phú Quốc, Nha Trang, Vân Đồn - Hạ Long - Cát Bà, Đà Lạt; Tam Đảo và phụ cận, Huế - Hội An.<br>
Chính sách "níu chân"<br>
Cùng với việc xây dựng những sản phẩm du lịch đặc thù, cũng cần hình thành một chuỗi chính sách liên ngành. Ông Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, một trong những giải pháp được ngành du lịch ưu tiên là tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan. Các chính sách cần tập trung đổi mới, hoàn thiện là xuất nhập cảnh, hải quan, thu hút đầu tư du lịch, tài chính, ngân hàng, đầu tư kết cấu hạ tầng và chính sách xúc tiến du lịch.<br>
Đây là những đòi hỏi cấp bách. Nếu không, ngành du lịch khó mà... du lịch nổi bởi không thể "ngồi" mà "gặm" tiềm năng khi "chân cẳng bị bó buộc"<br>
Nhơn Hội, niềm tự hào của người dân Bình Ðịnh thời kỳ đổi mới. Còn xoay lưng vào động cát phía tây, quay mặt ra hướng đông là biển cả bao la, xanh biếc một mầu. Chếch về hướng đông - bắc là bán đảo Phương Mai án ngữ cửa biển Thị Nại như tấm bình phong khổng lồ. Xa xa về phía đông - nam, là một đảo lớn, tục gọi Cù Lao Xanh. Từ xa xưa những người dân biển coi hòn đảo này như một tiêu mốc để định hướng đi. Sau này ngọn hải đăng đã được xây dựng trên đảo Cù Lao Xanh. Ði dọc con đường đất uốn lượn theo triền núi, du khách có dịp chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc kỳ dị mà tạo hóa đã tạo ra cho Ghềnh Ráng. Trên một phiến đá lớn có một bức phù điêu hình mặt người. Lại có khối sơn thạch được mưa gió và thời gian mài gọt trông tựa đầu một con sư tử lớn đang chồm ra Biển Ðông, có trụ đá hình dáng như người vợ ngóng chồng được mệnh danh là đá Vọng Phu. Ðặc biệt, ở đây có hai khối đá lớn chồng xếp lên nhau trông rất chênh vênh được gọi là Hòn Chồng. Thoạt nhìn khối đá lớn như thể muốn rơi, vậy mà trải qua năm tháng dãi dầu nó vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt", đứng vững vàng nghìn đời nay bất chấp phong ba bão tố. Từ Hòn Chồng đi về hướng bắc dọc theo ven biển sẽ gặp những hang động hiểm hùng, kỳ bí do đá nằm chồng chất lên nhau tạo thành. Ði thêm chút nữa là một bãi rộng chừng hơn 100m2 la liệt đá xanh hình tròn, mặt nhẵn như những quả trứng. Vì vậy mà bãi đá này có tên gọi là Bãi Ðá Trứng. Phía trên bãi có một mạch nước ngầm từ khe núi chảy ra, tạo thành hai giếng nước ngọt hình lòng chảo nằm kề nhau, đường kính miệng rộng hơn một mét. Phía ngoài giếng có một tảng đá lớn đột ngột nhô cao trên mặt nước, án ngữ những con sóng lớn từ ngoài khơi đổ vào bờ...<br>
Cảnh đẹp nên thơ của Ghềnh Ráng từ lâu đã là ngưồn cảm hứng của thi ca, như người dân địa phương truyền tụng: Gió Cầu Tấn trưa chiều thổi mát - Bãi Quy Nhơn mịn cát dễ đi - Phương Mai - Ghềnh Ráng tương tri - Ngâm câu thủy tú sơn kỳ thảnh thơi... Trong tâm thức dân gian, cảnh đẹp huyền ảo bao giờ cũng là nơi có bóng dáng thần tiên. Cũng bởi lẽ đó mà Ghềnh Ráng là nơi có truyền thuyết nàng tiên xuất hiện. Bên cạnh tên gọi dân dã thân quen, vùng này còn được gắn với một sự tích. Chuyện kể rằng, ngày xưa có một gia đình nông dân nghèo, sinh được một cô con gái nết na, xinh đẹp. Khi lớn lên, cô gái đã có một mối tình trong trắng với một chàng trai cùng làng. Nhưng tiếng đồn về nhan sắc của nàng đã lọt đến tai một viên quan hám sắc và độc ác. Y rắp tâm ép nàng làm vợ. Bằng thủ đoạn gian xảo và ỷ thế quyền lực, y bắt người con trai đi lính rồi đưa chàng tới tận nơi biên ải xa xôi đồng thời ra lệnh buộc nàng phải nộp đủ mười cân yến sào trong vòng một tháng, không đúng hạn sẽ phải lấy y. Giữ trọn mối tình chung thủy với người yêu, người con gái không quản hiểm nguy quyết chí vượt biển ra đảo tìm tổ yến. Ðúng lúc đó người con trai trở về, tìm lại người yêu. Vì hạnh phúc lứa đôi và thương người con gái liễu yếu đào tơ, chàng không quản khó khăn nguy hiểm, quyết tâm thay nàng ra đảo. Nàng trao cho chàng chiếc nón Gò Găng, kỷ vật chung tình của người ở lại, rồi nàng trở về sống trong mong đợi và lo âu. Ðến thời hạn nộp yến mà bóng chàng vẫn biền biệt. Sợ quá nàng đành bỏ trốn. Hay chuyện, viên quan cho lính đuổi theo. Bị truy đuổi gắt gao, người con gái chạy đến Ghềnh Ráng, ẩn vào núi Vũng Chua. Quân lính đuổi tới đây bỗng trời nổi cơn giông tố, gió cuốn ào ào, mưa bay mù mịt, sấm chớp đùng đùng. Bỗng nhiên núi nứt ra một khe lớn, nàng chạy vào vụt đó rồi biến mất. Khi giông tan, trời quang, mây tạnh, khe núi biến thành một dòng suối mát, uốn lượn trên sườn núi như một dải lụa nối trời với đất. Người đời gọi đó là Suối Tiên. Chàng trai tìm đủ số yến cũng hối hả trở về, nào ngờ, trên đường từ đảo vào đất liền cũng gặp giông bão, yến bị sóng biển cuốn trôi hết. Chàng đuối sức rồi ngất xỉu, sóng biển đã đưa chàng tấp vào Ghềnh Ráng. Khi tỉnh lại, chàng còn đang ngơ ngác, chưa hiểu mình bị dạt vào đâu thì thấy bóng người con gái lúc hiện, lúc ẩn, chàng vừa gọi vừa chạy theo cho đến khi hai người cùng biến mất. Ghềnh Ráng trở thành nơi đoàn tụ của đôi uyên ương, vì cường quyền mà không nên được nghĩa vợ chồng lúc còn ở dương gian. Họ đã phải thoát tục thành tiên mới đến được với nhau. Câu chuyện đượm màu huyền thoại, đậm chất nhân văn ấy đã làm cho Ghềnh Ráng thêm hai chữ Tiên Sa, dân gian thường gọi vùng này bằng cái tên ghép Ghềnh Ráng - Tiên Sa.<br>
Ghềnh Ráng càng nổi danh hơn bởi thi sĩ Hàn Mặc Tử. Vì mắc bệnh hiểm nghèo, ông đã phải sống những năm tháng cuối đời trong trại phong Quy Hòa. Tâm trạng đau thương, giông bão lại được tiếp thêm cảm hứng từ cảnh thiên nhiên như siêu thực của Ghềnh Ráng, ông đã viết nên những áng thơ bất hủ để lại cho đời. Hàn Mặc Tử qua đời khi còn quá trẻ, lúc nhà thơ mới vừa 28 tuổi. Ðể thỏa nguyện mong ước của thi sĩ lúc sinh thời, năm 1969, gia đình và thân hữu đã đưa thi hài Hàn Mặc Tử về an táng ở Ghềnh Ráng. Ngôi mộ được xây trên một gò cao, lưng dựa vào núi, mặt quay ra biển là nơi mà ai ai dù chỉ một lần đặt chân đến Ghềnh Ráng cũng đều ghé thăm. Ðó không chỉ đơn thuần là một ngôi mộ mà hơn thế nữa là nơi tưởng niệm một danh nhân - thi sĩ tài danh. Cho đến nay, Ghềnh Ráng đã được quy hoạch chi tiết nhằm gìn giữ, phát huy giá trị của danh lam thắng cảnh. Khu vực mộ Hàn Mặc Tử đã được tôn tạo, có khu trưng bày cuộc đời và thi ca của nhà thơ, có dịch vụ bút lửa Zũ Kha ghi lại những áng thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử, có khu vực diễn ra hội đánh bài chòi và các trò chơi dân gian nhằm phục vụ du khách về với thành phố biển Quy Nhơn.
Ghềnh Ráng là một quần thể sơn thạch của dãy núi Xuân Vân chạy đến sát chân biển phía nam thành phố Quy Nhơn. Nơi đây đá chất ngổn ngang, tạo thành hang, thành rạn, thành ghềnh, quanh năm giỡn đùa cùng sóng biển...<br>
Từ đỉnh Ghềnh Ráng có thể phóng tầm mắt nhìn rộng cả bốn bề. Phía nam như một bức tranh sơn thủy hữu tình với những dãy núi xanh dựng thành từng lớp, nơi cao, nơi thấp chạy dọc ven biển đến tận Quy Hòa. Về phương bắc, lướt qua dải cát vàng mịn óng, thành phố Quy Nhơn hiện lên với những đường phố dọc ngang; xa xa là khu kinh tế Cẩm nang du lịch- Hotel Hai Hường<br>
Với 9 di sản văn hóa thế giới, gần 3.000 di tích, thắng cảnh được xếp hạng cấp quốc gia và hơn 500 lễ hội của 54 dân tộc… tiềm năng du lịch của Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, để du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn thì vẫn còn nhiều việc phải làm. Trong đó, việc đầu tiên và quan trọng nhất là xây dựng, khẳng định thương hiệu sản phẩm du lịch đặc thù.<br>
Tiềm năng nhiều, hạn chế... lắm<br>
Hiện ngành du lịch đóng góp khoảng 5% GDP quốc gia. Từ 1 triệu lao động trực tiếp làm trong lĩnh vực du lịch, sau 9 năm (2001-2009) con số này đã tăng lên 20 lần; lao động gián tiếp ước khoảng 800 nghìn. Du lịch cũng là ngành kinh tế thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (riêng năm 2009, thu hút 8,8 tỷ USD, chiếm 41% tổng số vốn đăng ký FDI vào Việt Nam). Mười năm qua, với chương trình hành động quốc gia về du lịch, nhiều cơ sở vật chất được nâng cấp, hình thành các khu du lịch trọng điểm, nhiều ngành kinh tế phát triển nhờ du lịch. Chương trình hành động quốc gia với Năm Du lịch quốc gia được lần lượt tổ chức tại các địa phương đã góp phần thúc đẩy du lịch phát triển. Thông qua các chương trình này, khái niệm du lịch, kinh tế xanh dần dần được định hình.<br>
Tuy nhiên, so với tiềm năng du lịch hiện có thì lượng khách quốc tế đến ViệtNam hằng năm còn thấp, giữ khoảng cách khá xa so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia. Du lịch chưa thực sự được đầu tư phát triển tương xứng, kết cấu hạ tầng nói chung còn lạc hậu, chưa đáp ứng <a href="http://www.haihuonghotel.vn/vi/component/content/article/1-gioi-thieu/1-khach-san-hai-huong-o-tai-quy-nhon.html" target="_blank">khách sạn ở tại quy nhơn</a> được nhu cầu, đặc biệt là chưa có cảng biển chuyên dụng cho khách du lịch tàu biển… Ngoài ra, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam Nguyễn Văn Tuấn cho biết thêm, môi trường du lịch nhiều nơi bị suy giảm, công tác quản lý tài nguyên du lịch còn ít nhiều hạn chế, tình trạng xâm hại tài nguyên, môi trường của nhiều khu du lịch như Hạ Long, Cát Bà, Huế… đã lên tới mức báo động; hiện tượng chặt chém, chèo kéo du khách… chưa được các địa phương giải quyết triệt để…<br>
Tìm đâu sản phẩm đặc thù?<br>
Mục tiêu thu hút 12 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 35 triệu du khách nội địa vào năm 2020 là không hề đơn giản.<br>
Vấn đề cơ bản của du lịch Việt Nam hiện nay là xây dựng những sản phẩm đặc thù, mang bản sắc Việt Nam. Đến một địa phương nào đều có một sản phẩm du lịch nhất định nhưng để đòi hỏi một độ tinh xảo, khéo léo... thì rất khó. Ở đâu cũng chỉ những tấm thổ cẩm, vài ba sản phẩm thủ công mỹ nghệ… được làm như hàng chợ, chưa thể hiện được "linh hồn" người thợ thủ công vào một sản phẩm làm bằng tay. Điều đáng nói, cả người mua và người bán đều chưa ý thức được vai trò của sản phẩm lưu niệm.<br>
Khi môi trường cạnh tranh du lịch khốc liệt hơn thì muốn thu hút khách du lịch bắt buộc phải tạo nên những giá trị khác biệt. Vậy điều khác biệt, độc đáo của du lịch Việt Nam là gì? Hiện Việt Nam có khoảng 10 sản phẩm du lịch thuộc ba nhóm: Nhóm các sản phẩm du lịch tự nhiên bao gồm du lịch sinh thái; du lịch bãi tắm và du lịch biển... Nhóm sản phẩm du lịch văn hóa bao gồm du lịch văn hóa vật thể, du lịch văn hóa phi vật thể; du lịch bảo tàng; du lịch ẩm thực… Nhóm du lịch đô thị bao gồm du lịch đô thị cổ, du lịch đô thị hiện đại… Như vậy, Việt Nam sẽ chọn sản phẩm nào làm mũi nhọn phát triển?<br>
Trên thực tế, tài nguyên du lịch biển, tài nguyên du lịch núi và tài nguyên du lịch của 9 di sản văn hóa thế giới với 3 sản phẩm du lịch chủ lực là du lịch biển, du lịch núi và du lịch tham quan các di sản văn hóa thế giới nên là những ưu tiên. Từ đó, nên <a href="http://www.haihuonghotel.vn/vi/component/content/article/1-gioi-thieu/1-khach-san-hai-huong-o-tai-quy-nhon.html" target="_blank">khach san o tai quy nhon</a> xây dựng các tour, tuyến du lịch và những khu du lịch trọng điểm. Nhưng với điều kiện tài chính, nguồn lực như hiện nay, ngành du lịch có nên dàn trải? Theo TS Lưu Đức Hải, Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch - Đầu tư), chỉ nên lựa chọn 6 khu du lịch tập trung đầu tư, ưu đãi chính sách nhằm tạo ra 6 khu du lịch thế giới là Phú Quốc, Nha Trang, Vân Đồn - Hạ Long - Cát Bà, Đà Lạt; Tam Đảo và phụ cận, Huế - Hội An.<br>
Chính sách "níu chân"<br>
Cùng với việc xây dựng những sản phẩm du lịch đặc thù, cũng cần hình thành một chuỗi chính sách liên ngành. Ông Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, một trong những giải pháp được ngành du lịch ưu tiên là tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan. Các chính sách cần tập trung đổi mới, hoàn thiện là xuất nhập cảnh, hải quan, thu hút đầu tư du lịch, tài chính, ngân hàng, đầu tư kết cấu hạ tầng và chính sách xúc tiến du lịch.<br>
Đây là những đòi hỏi cấp bách. Nếu không, ngành du lịch khó mà... du lịch nổi bởi không thể "ngồi" mà "gặm" tiềm năng khi "chân cẳng bị bó buộc"<br>
Nhơn Hội, niềm tự hào của người dân Bình Ðịnh thời kỳ đổi mới. Còn xoay lưng vào động cát phía tây, quay mặt ra hướng đông là biển cả bao la, xanh biếc một mầu. Chếch về hướng đông - bắc là bán đảo Phương Mai án ngữ cửa biển Thị Nại như tấm bình phong khổng lồ. Xa xa về phía đông - nam, là một đảo lớn, tục gọi Cù Lao Xanh. Từ xa xưa những người dân biển coi hòn đảo này như một tiêu mốc để định hướng đi. Sau này ngọn hải đăng đã được xây dựng trên đảo Cù Lao Xanh. Ði dọc con đường đất uốn lượn theo triền núi, du khách có dịp chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc kỳ dị mà tạo hóa đã tạo ra cho Ghềnh Ráng. Trên một phiến đá lớn có một bức phù điêu hình mặt người. Lại có khối sơn thạch được mưa gió và thời gian mài gọt trông tựa đầu một con sư tử lớn đang chồm ra Biển Ðông, có trụ đá hình dáng như người vợ ngóng chồng được mệnh danh là đá Vọng Phu. Ðặc biệt, ở đây có hai khối đá lớn chồng xếp lên nhau trông rất chênh vênh được gọi là Hòn Chồng. Thoạt nhìn khối đá lớn như thể muốn rơi, vậy mà trải qua năm tháng dãi dầu nó vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt", đứng vững vàng nghìn đời nay bất chấp phong ba bão tố. Từ Hòn Chồng đi về hướng bắc dọc theo ven biển sẽ gặp những hang động hiểm hùng, kỳ bí do đá nằm chồng chất lên nhau tạo thành. Ði thêm chút nữa là một bãi rộng chừng hơn 100m2 la liệt đá xanh hình tròn, mặt nhẵn như những quả trứng. Vì vậy mà bãi đá này có tên gọi là Bãi Ðá Trứng. Phía trên bãi có một mạch nước ngầm từ khe núi chảy ra, tạo thành hai giếng nước ngọt hình lòng chảo nằm kề nhau, đường kính miệng rộng hơn một mét. Phía ngoài giếng có một tảng đá lớn đột ngột nhô cao trên mặt nước, án ngữ những con sóng lớn từ ngoài khơi đổ vào bờ...<br>
Cảnh đẹp nên thơ của Ghềnh Ráng từ lâu đã là ngưồn cảm hứng của thi ca, như người dân địa phương truyền tụng: Gió Cầu Tấn trưa chiều thổi mát - Bãi Quy Nhơn mịn cát dễ đi - Phương Mai - Ghềnh Ráng tương tri - Ngâm câu thủy tú sơn kỳ thảnh thơi... Trong tâm thức dân gian, cảnh đẹp huyền ảo bao giờ cũng là nơi có bóng dáng thần tiên. Cũng bởi lẽ đó mà Ghềnh Ráng là nơi có truyền thuyết nàng tiên xuất hiện. Bên cạnh tên gọi dân dã thân quen, vùng này còn được gắn với một sự tích. Chuyện kể rằng, ngày xưa có một gia đình nông dân nghèo, sinh được một cô con gái nết na, xinh đẹp. Khi lớn lên, cô gái đã có một mối tình trong trắng với một chàng trai cùng làng. Nhưng tiếng đồn về nhan sắc của nàng đã lọt đến tai một viên quan hám sắc và độc ác. Y rắp tâm ép nàng làm vợ. Bằng thủ đoạn gian xảo và ỷ thế quyền lực, y bắt người con trai đi lính rồi đưa chàng tới tận nơi biên ải xa xôi đồng thời ra lệnh buộc nàng phải nộp đủ mười cân yến sào trong vòng một tháng, không đúng hạn sẽ phải lấy y. Giữ trọn mối tình chung thủy với người yêu, người con gái không quản hiểm nguy quyết chí vượt biển ra đảo tìm tổ yến. Ðúng lúc đó người con trai trở về, tìm lại người yêu. Vì hạnh phúc lứa đôi và thương người con gái liễu yếu đào tơ, chàng không quản khó khăn nguy hiểm, quyết tâm thay nàng ra đảo. Nàng trao cho chàng chiếc nón Gò Găng, kỷ vật chung tình của người ở lại, rồi nàng trở về sống trong mong đợi và lo âu. Ðến thời hạn nộp yến mà bóng chàng vẫn biền biệt. Sợ quá nàng đành bỏ trốn. Hay chuyện, viên quan cho lính đuổi theo. Bị truy đuổi gắt gao, người con gái chạy đến Ghềnh Ráng, ẩn vào núi Vũng Chua. Quân lính đuổi tới đây bỗng trời nổi cơn giông tố, gió cuốn ào ào, mưa bay mù mịt, sấm chớp đùng đùng. Bỗng nhiên núi nứt ra một khe lớn, nàng chạy vào vụt đó rồi biến mất. Khi giông tan, trời quang, mây tạnh, khe núi biến thành một dòng suối mát, uốn lượn trên sườn núi như một dải lụa nối trời với đất. Người đời gọi đó là Suối Tiên. Chàng trai tìm đủ số yến cũng hối hả trở về, nào ngờ, trên đường từ đảo vào đất liền cũng gặp giông bão, yến bị sóng biển cuốn trôi hết. Chàng đuối sức rồi ngất xỉu, sóng biển đã đưa chàng tấp vào Ghềnh Ráng. Khi tỉnh lại, chàng còn đang ngơ ngác, chưa hiểu mình bị dạt vào đâu thì thấy bóng người con gái lúc hiện, lúc ẩn, chàng vừa gọi vừa chạy theo cho đến khi hai người cùng biến mất. Ghềnh Ráng trở thành nơi đoàn tụ của đôi uyên ương, vì cường quyền mà không nên được nghĩa vợ chồng lúc còn ở dương gian. Họ đã phải thoát tục thành tiên mới đến được với nhau. Câu chuyện đượm màu huyền thoại, đậm chất nhân văn ấy đã làm cho Ghềnh Ráng thêm hai chữ Tiên Sa, dân gian thường gọi vùng này bằng cái tên ghép Ghềnh Ráng - Tiên Sa.<br>
Ghềnh Ráng càng nổi danh hơn bởi thi sĩ Hàn Mặc Tử. Vì mắc bệnh hiểm nghèo, ông đã phải sống những năm tháng cuối đời trong trại phong Quy Hòa. Tâm trạng đau thương, giông bão lại được tiếp thêm cảm hứng từ cảnh thiên nhiên như siêu thực của Ghềnh Ráng, ông đã viết nên những áng thơ bất hủ để lại cho đời. Hàn Mặc Tử qua đời khi còn quá trẻ, lúc nhà thơ mới vừa 28 tuổi. Ðể thỏa nguyện mong ước của thi sĩ lúc sinh thời, năm 1969, gia đình và thân hữu đã đưa thi hài Hàn Mặc Tử về an táng ở Ghềnh Ráng. Ngôi mộ được xây trên một gò cao, lưng dựa vào núi, mặt quay ra biển là nơi mà ai ai dù chỉ một lần đặt chân đến Ghềnh Ráng cũng đều ghé thăm. Ðó không chỉ đơn thuần là một ngôi mộ mà hơn thế nữa là nơi tưởng niệm một danh nhân - thi sĩ tài danh. Cho đến nay, Ghềnh Ráng đã được quy hoạch chi tiết nhằm gìn giữ, phát huy giá trị của danh lam thắng cảnh. Khu vực mộ Hàn Mặc Tử đã được tôn tạo, có khu trưng bày cuộc đời và thi ca của nhà thơ, có dịch vụ bút lửa Zũ Kha ghi lại những áng thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử, có khu vực diễn ra hội đánh bài chòi và các trò chơi dân gian nhằm phục vụ du khách về với thành phố biển Quy Nhơn.